Nghệ thuật “đấu trà”

Ngày đăng: 07/04/2022 - Lượt xem: 112

Vương Trung Hiếu – Báo Thanh Niên

     Đây là cuộc thi người tham gia sẽ phải dựa vào màu sắc, hương thơm, vị ngon của trà để đoán xem đây là loại trà gì. Không những vậy, có những cuộc thi còn yêu cầu đoán chính xác tên địa phương trồng trà.

“Đấu trà” của người Trung Hoa

Đây là một trong những trò tiêu khiển vào thời nhà Đường và trở nên cực thịnh trong triều đại nhà Tống.

“Đấu trà” là một nghệ thuật, do Phạm Trọng Yêm (989- 1052) ghi lại sớm nhất vào thời Bắc Tống. Nghệ thuật này chia làm 2 loại: đấu trà cung đình, phổ biến trong giới thượng lưu và đấu trà dân gian, do những nghệ nhân tổ chức.

Quyển Trà lục của Thái Tương (1012-1067) và Đại quang trà luận của hoàng đế Tống Huy Tông (1082 – 1135) đều mô tả chi tiết về những cuộc đấu thí này, đó là những cuộc cạnh tranh cân não, “khốc liệt” để trở thành người thắng cuộc.

Ban đầu, người chơi “đấu trà” sẽ nếm trà, tập trung vào việc đánh giá chất lượng của các loại trà khác nhau, về sau thì thường là nếm thử một số tách trà và cố gắng đoán vùng xuất xứ của trà.

Khi “đấu trà”, cả hai bên lấy một tách bột trà và pha bằng cách gọi là “điểm trà”. Đầu tiên họ rắc một ít bột trà xuống đáy tách rồi cho một ít nước sôi vào, khuấy đều để tạo thành một hỗn hợp trà sền sệt, cách này gọi là “điều cao” . Sau đó họ tiếp tục đổ nước sôi vào, gọi là “điểm thang”. Khi đổ nước sôi vào, họ dùng phới tre, tức cây chổi trà (trà tiển) đập nhè nhẹ vào nước trà, khuấy đều để cho nước trà nổi lớp bọt phía trên. Nước trà thu được phải có hoa súp màu trắng sữa. Tỷ lệ trà và nước bọt phải phù hợp, làm sao để nước đều, không đều xem như thất bại.

Trong lúc thi “đấu trà”, người ta bình phán cả nước trà và hương vị trà. Màu sắc của nước trà phải là màu của trà, với màu trắng tinh khiết hiện phía trên. Tiếp theo lần lượt là trắng xanh, trắng xám và trắng vàng. Màu trắng tinh cho thấy trà tươi và mềm, nghĩa là khi hấp có hơi nóng vừa phải; hơi xanh cho thấy nhiệt không đủ khi hấp; màu xám có nghĩa là nhiệt quá già; hơi vàng nghĩa là không được thu hoạch kịp thời và hơi đỏ có nghĩa là nhiệt độ rang quá cao.

Đấu trà Trung Quốc

Cuộc thi “đấu trà” dân gian tranh cúp Tam hạc ở Ngô Châu, Quảng Tây năm 2021, thu hút gần 100 “lưỡi vàng” và 259 mẫu trà tham gia.

“Hoa canh” là thuật ngữ dùng để chỉ bọt nổi lên từ nước trà. Có hai tiêu chí để xác định chất lượng của hoa canh: thứ nhất là màu sắc của hoa canh, có màu trắng sáng ở phía trên, thứ hai là sau khi hoa canh xuất hiện thì sớm hay muộn cũng xuất hiện các vết nước.

Nếu bột trà được xay mịn, nước bọt vừa phải, nước trà đều và mịn thì có thể vết nước đọng lại, hiện rõ ở thành chén, gọi là “cắn chén” (giảo trản). Ngược lại, nếu hoa canh mọc lên mà không cắn được thì sẽ nhanh chóng lây lan. Ngay sau khi hoa bọt được phân tán, “vết nước” (thủy ngấn) được tiếp xúc ở nơi mà nước trà và chén gặp nhau.

Dấu nước xuất hiện càng sớm thì người chơi thua cuộc, còn người nào có vết nước sau thì thắng. Vì vậy, thắng hay bại của cuộc “đấu trà” đều được tính bằng “thủy”, một lần thua là “một nước”, hai lần là “hai thủy” và cứ thế mà tính.

Trong triều đại nhà Tống, trà trắng rất được coi trọng. Nhiều người tranh giành độ trắng của nước nóng khi pha trà. Đây là loại trà trắng duy nhất của triều đại nhà Tống, không giống như cách phân loại trà trắng hiện nay mà ta thường gọi là Bạch trà.

“Đấu trà” của người Nhật Bản

Đây là hình thức thi đấu, cũng là một thú chơi tinh thần trong giới Samurai của Nhật Bản, đã có lịch sử gần 700 năm nay. Đấu trà được tổ chức và được ưa chuộng tại Kyoto, sau đó lan đến những nơi nổi tiếng về trồng trà như Shizuoka và dần dần lan rộng ra cả nước.

Nước Nhật biết đến đấu trà vào thời kỳ Kamakura (Liêm Thương thời đại, 1185–1333). Ở Nhật, người ta còn gọi cuộc thi này là Hồi trà, Ẩm trà thắng phụ, Trà ký hiệp, Trà thang thắng phụ và Cống trà.

Ban đầu, mục đích là để phân biệt trà chất lượng cao của vùng Tạp Đông thôn với các loại trà khác, tuy nhiên khi phát triển đến cực thịnh thì nghệ thuật đấu trà nhằm vào việc xác định đúng nơi sản xuất trà bằng cách pha trà, uống trà và đoán xuất xứ từ hương thơm và mùi vị.

Nam-Bắc triều chính là thời kỳ hoàng kim của đấu trà, đến đầu thời đại Thất Đinh thì cách thi phổ biến nhất là Tứ chủng thập phục trà, nghĩa là sử dụng tổng cộng 4 loại trà (3 loại trà hạt và 1 loại trà khách). Đầu tiên là 3 loại trà hạt “Ichinocha”, “Ninocha” và “Sannocha”.

Mỗi người tham gia phải nếm và kiểm tra mùi vị, hương thơm. Tiếp theo, pha tổng cộng 10 túi trà, tổng cộng 3 loại trà (mỗi loại 3 túi) và 1 túi từ loại trà của khách. Những người tham gia phải trả lời liệu 10 túi trà có giống với lần nếm thử đầu tiên là “Ichinocha”, “Ninocha”, “Sannocha” hay không, hoặc liệu chúng có phải là các loại trà của khách hay không, người nào trả lời đúng nhiều nhất sẽ là người chiến thắng với giải thưởng gồm có lụa, vũ khí, vàng và đồ trang sức.

Có những cuộc đấu trà quy mô, đòi hỏi người chơi phải thi nhiều lần, chẳng hạn như cuộc thi Bách phục trà, còn gọi là Bách chủng trà của Sasaki Takauji. Ngoài ra còn nhiều cách thi đấu tầm cỡ khác.

Do người thi đấu phải uống rất nhiều trà, thường là 10 hoặc 50 tách, nên cuộc thi còn những tên khác gọi là juppukucha (10 tách trà) và gojuppukucha (50 tách trà). Nhân viên phục vụ đem chén hoặc tách chứa sẵn trà bột ra cho khách. Khi khách đã ngồi vào chỗ, họ sẽ đổ nước nóng vào tách và đánh bông trà để chuẩn bị.

Một trong những ví dụ sớm nhất về đấu trà là bài giảng Hoa viên viện thần ký của Thiên hoàng Hanazono, viết ngày 18.11.1324, vào cuối thời Kamakura. Tám năm sau, Hoàng đế Kogon viết bài Quang Nghiêm thiên hoàng thần ký (Hồi ký của Hoàng đế Kogon) vào tháng 6 năm 1332, cho biết triều đình cũng đã tổ chức đấu trà. Ngoài ra, Thái bình ký (Taihei-ki ) viết rằng thi hào Tá Tá Mộc Đạo Dự (Sasaki dōyo) đã mở một cuộc thi đấu trà quy mô, với giải thưởng lớn là Bách phục trà.

Từ giữa thế kỷ 15, khi văn hóa Đông Sơn (Higashiyama bunka, 1436-1490) chuyển đổi, đấu trà bắt đầu suy giảm. Tuy nhiên, do nhóm Kabuki yêu thích nên từ thế kỷ 17, việc đấu trà có tên mới là trà Kabuki. Điều này được ghi nhận trong Ca vũ kỹ trà và trở thành một phần của nghi thức Trà đạo sau đó.

Đoán tên của 3 loại trà

Đề bài là đoán đúng tên của 3 loại trà: 煎茶 (sencha), 玉露茶 (Gyokuro-cha), 玄米茶 (genmai-cha).
Ảnh: Đỗ Phương.

Các cuộc đấu trà có thể ồn ào, náo nhiệt giống như cờ bạc, song có thể xem là bước đệm giữa việc sử dụng trà để chống buồn ngủ của Phật giáo Thiền tông và trà đạo thế tục, kể từ khi nó lần đầu tiên phổ biến việc uống trà bên ngoài các tu viện.

Trong cuộc thi Kabuki đấu trà hiện đại, người chơi phải trả lời đúng nguồn gốc của 5 loại trà, quy tắc này không thay đổi ngày nay. Tại thị trấn Nakanojo, tỉnh Gunma, tục lệ đấu trà Bạch cửu bảo trà giảng được coi là tài sản văn hóa dân gian phi vật thể quan trọng của đất nước Nhật Bản.

Do người thi đấu phải uống rất nhiều trà, thường là 10 hoặc 50 tách, nên cuộc thi còn những tên khác gọi là juppukucha (10 tách trà) và gojuppukucha (50 tách trà). Nhân viên phục vụ đem chén hoặc tách chứa sẵn trà bột ra cho khách. Khi khách đã ngồi vào chỗ, họ sẽ đổ nước nóng vào tách và đánh bông trà để chuẩn bị.

Hỏi đáp

      Không có một quy tắc duy nhất nào về việc pha trà được áp dụng cho tất cả loại trà, bởi vì mỗi loại đều độc đáo và xứng đáng được xử  lý theo cách riêng. Có nhiều phương pháp pha chế khác nhau vì có những loại trà khác nhau. Thời gian pha trà thay đổi tùy theo từng loại và tùy sở thích riêng của mỗi người. Với người Việt, nghệ thuật pha trà được gói gọn trong câu “nhất thủy, nhì trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh”. A. Nước – thứ nguyên liệu đầu vị. Cách đây 1200 năm, người ta... Xem thêm
        Là một yếu tố trực tiếp cấu thành nên thực thể sản phẩm. Do vậy, chất lượng của nguyên liệu trà búp ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của trà sản phẩm. Nguyên liệu trà búp đảm bảo chất lượng là điều kiện quan trọng đầu tiên tạo nên được một vị trà ngon. A. MÙA THU BÚP Chất lượng của trà sản phẩm phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của trà búp, tức là trà nguyên liệu và chất lượng của nguyên liệu lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Các yếu tố này, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay, có...
Xem thêm
     Trà là một trong những loại thức uống quen thuộc của người Việt Nam. Thưởng thức tách trà vào buổi sáng sớm là thói quen của nhiều người, giúp tinh thần khoan khoái và rất tốt cho sức khỏe. Xưa các cụ hiểu trà, trước khi thưởng trà nào, thường tìm hiểu rất kỹ về nguồn gốc xuất xứ, cách trồng, chăm sóc & chế biến. Những cánh trà nhỏ đều tăm tắp, mảnh mai, cong và mềm mại… là một trong số các tiêu chí để lựa chọn trà cộng với sự tinh tế của nghệ thuật pha trà, kết hợp hài hoà giữa ấm và...
Xem thêm
     Nhà sư Tuệ Tĩnh từng nói: “Trà làm cho tâm hồn sảng khoái, thanh nhiệt cơ thể. Uống một bát vạn nỗi ưu phiền tan biến”. Bởi vậy trà ở Việt Nam không là đạo mà trà đã là một phần của cuộc sống. Trong mỗi ngôi nhà ở làng quê, hay dưới mái chùa ngay giữa thủ đô Hà Nội, cố đô Huế hay TP.Hồ Chí Minh và khắp nơi trên cả nước, hàng ngày chúng ta vẫn được dùng một thức uống độc đáo – chè tươi, đó chính là nhờ việc quốc dân hóa cây chè của vị Thánh trà Việt – Thiền sư...
Xem thêm
     Trong tiếng Việt, ở miền Bắc thường dùng từ chè trong câu ca dao Hà Nội 36 phố phường “Uống chè mạn hảo, ngâm nôm Thuý Kiều”. “Sớm ba chén chè sen, mát ruột, nài chi vò đất hẩm hiu” (Nguyễn Trãi); “Chắc chắc nước chè xanh là mặt hàng cốt yếu” (Nguyễn Chí Hoan); hay các câu “Văn hóa chè và trà đạo Việt Nam” (Ngô Linh Ngọc); “Viện nghiên cứu chè Phú Hộ có nhiều giống chè như Trung Du, Shan, Trung Quốc và Ấn Độ”; hoặc “VINATEA trong năm 1998 đã xuất khẩu 17.000 tấn chè đen, chè xanh…”; “Nguồn gốc cây chè và...
Xem thêm
     Nhiều ngành đều có ông tổ của ngành mình, nhưng ngành trà Việt Nam thì không thấy ông tổ là ai?” Tìm khắp các tư liệu lịch sử, chúng tôi không thể tìm ra được câu trả lời thỏa đáng, chỉ biết dân Lạc Việt đã uống trà từ rất xa sưa.Để trả lời cho được câu hỏi này, chúng tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát nhanh đến xã Tân cương, Thái Nguyên. Vùng trà ngon nổi tiếng nhất Việt Nam, hy vọng ít nhất cũng tìm được ông tổ cây chè Thái Nguyên. Đồi chè Tân Cương – Thái Nguyên. Hiện nay chưa phát...
Xem thêm
“Bộ trà cụ phỉ cái tình “Mát nóng ấm lạnh” phát sinh “Thời Trà” “Xuân – hạ – thu – đông” phân ra Đồ trà bốn bộ phải là riêng biệt Cũng Ấm, Tống, Quận và Chuyên Nhưng đã phân định rẽ riêng khi dùng” ♨️ Nghệ thuật “khai ấm” Hồng Sa Trong giới QUÝ TRÀ HỮU, khai ấm là giai đoạn tiên quyết vì nó sẽ đánh thức linh hồn của các dòng ấm gốm mà một sản phẩm Việt tiêu biểu mà Tan Cuong Green Tea phân phối mang tên Hồng Sa. Ngược dòng thời gian, trở về cuộc thiên di đầu tiên của các cụ liệt tổ,...
Xem thêm
Nhiều người thường đặt câu hỏi Việt Nam có trà đạo không? Tại sao Việt Nam không có một nền văn hóa trà để sánh với trà đạo Nhật Bản, với trà nghệ Trung Hoa, với trà buổi chiều của Anh quốc? Nếu chúng ta cho rằng, đạo là con đường, là cung cách uống trà thì Việt Nam hẳn nhiên có trà đạo. Đó là cách uống trà của người Việt. Cách uống trà đó giản dị, gần gũi, nhưng cũng rất đỗi tinh tế như tâm hồn người Việt nên nó không là một cái đạo như trà đạo Nhật Bản, không quá cầu kỳ như trà...
Xem thêm

Âm thanh đẹp

Follow Us