Nguyên nhân Tết Nguyên Đán

Lượt xem : 641 lượt xem

~ Nguyễn Huân    

     Ngày xưa ở Á đông, tết Nguyên đán đặt ra từ đời Tam Vương Ngũ Đế, nhưng ngày giờ khác nhau chứ không nhất định về tháng giêng như ngày nay.(1)

Đời Tam Vương nhà Hạ thì chọn tháng Dần là tháng giêng để ăn Tết vì đời ấy hay ưa những sắc đen. Đến đời nhà Thương thì lại ưa sắc trắng nên lại chọn tháng Sửu là tháng chạp để ăn Tết.

Đến đời nhà Chu, ưa sắc đỏ thì lịa ăn Tết về tháng Tý, tức là tháng một.

Đời Tam Vương, theo thế là vì khi mới tạo thiên lập địa thì giờ Tý thành giời, giờ Sửu đất rắn, giờ Dần sinh người nên mới đặt ngày Tết khác nhau. Đến đời Đông Chu thì đất Khổng Tử theo nhà Hạ, đổi việc ăn Tết vào tháng giêng. Đến đời nhà Tần thì lại ăn Tết vào tháng hợi tức là tháng mười. Đến thời Hán lên ngôi thì lại theo đức Khổng Tử ăn Tết vào tháng giêng, bởi thế người Á Đông theo mãi cái Tết ấy cho đến ngày nay.

Vì các đế vương xét ra có 4 mùa: Xuân – Hạ –  Thu –  Đông thì chỉ có mùa Xuân là công việc rỗi rãi hơn cả, khí hậu mát mẻ, êm đềm, cho nên đặt cái tháng giêng để mọi người nghỉ ngơi ăn Tết đón xuân.

Đời ông Đông Phương Sóc nhà Hán nghiệm ra rằng: khi xưa trái đất tạo thành rồi thì giống gà sinh ra ngày thứ nhất, giống chó sinh ngày thứ 2, giống lợn sinh ngày thứ 3, giống dê sinh ngày thứ tư, giống trâu sinh ngày thứ năm, giống ngựa sinh ngày thứ sáu rồi đến giống người sinh ngày thứ bảy, còn ngày thứ tám thì sinh ra ngũ cốc. Bởi thế nên ông đã ra lệ ăn Tết từ mùng 1 đến mùng 7 tháng giêng thì khai hạ tức là thôi không ăn Tết nữa.

Nhân dân liền theo đó đặt ra cúng bái tổ tiên, tìm các thứ trừ ma quỷ: nào cắm cây nêu, nào vẽ bàn cờ, vẽ 3 ô vuông 7 ô tròn, vẽ cung tên và rắc vôi bột xung quang nhà… rồi từ đấy người ta cứ thêm ra bớt vào, đặt bày cách này, cách khác, theo nhau cho tới ngày nay.

Tết Nguyên Đán (2)

~ Trần Văn Thược & Nguyễn Xuân Sơn

Từ rằm tháng chạp, nhà quê kẻ chợ đã nhộn nhịp vì Tết. 23 Tết Ông Táo, 26 Dựng nêu. Rồi rửa bàn thờ, quét nhà cửa, câu đối, hoành phi, tranh vẽ, giấy đỏ dán khắp nhà. Sáng 30 ra đồng thăm mộ, chiều cúng tiên thường.

Thôi có việc gì thu xếp cho xong đi; thịt mỡ, bánh chưng, dưa cải, dưa hành sắm cho đủ; công nợ đòi hỏi cho xong. Hễ đến giao thừa là sang năm mới. Đến nửa đêm, lễ tống cựu nghinh tân; đình chùa thì chiêng trống khua vang, các tư gia thì pháo nổ vang lừng. Sáng ngày ra thế nào cũng rửa mặt bằng nước mùi, quần áo đẹp nhất nhì thì đem ra mặc.

Cúng ở nhà xong, ăn uống cho no say rồi đi các nhà khác lễ Ông Vải và chúc mừng năm mới. Nào những sáng con mắt, chặt đầu gối, chữ tốt văn hay, nào những sinh 5 đẻ 7, tiến chức thăng quan,… Suốt 3 ngày Tết, tha hồ mà chơi bời vui vẻ; nhất là sáng mùng một chớ có nói tục, nói bậy, chớ có quét sạch nhà, đánh đổ điếu mà dông cả năm.

Những ngày giáp Tết

Ngày áp Tết. Một gia đình tại làng So, xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai. Ảnh: Lí Học 2021.

Câu chuyện ăn Tết (3)

~ Ái Nhơn

a. Ăn Tết

Đồng bào ta mỗi năm lo ăn “Tết” mà ít ai xét việc ăn ấy là nghĩa gì, phải đáng nên làm hay là không, nếu xét cho chí lý rồi, thì việc ăn Tết chẳng chi rằng lạ! Tục đã bày, hễ đúng 12 tháng thì gọi là một năm; mà đến ngày 30 tháng chạp thì ngày ấy là cuối năm này, hầu sang năm khác (tục gọi năm mới).

Phân ra như vậy, cho biết việc nào, làm ra đặng mấy năm: Người nào, đặng mấy tuổi, bấy nhiêu đó vậy thôi, chớ chẳng chi khác nữa. Mà tục lệ ăn Tết này là của người Tàu bày ra, mình bắt chước làm theo, chớ chẳng phải cái Tết của ta, hay là Tết ấy là ngày kỷ niệm chi của ta đâu.

Ấy là: Phân ranh hạn, cho biết năm, biết tuổi đó thôi, không có chi rằng quý, mà phải trọng, phải lo cho tốn tiền, lại thêm nhọc trí nữa.

Dòm thấy nhiều người, bộ làm ăn Tết quá! Hễ tới Tết, thì lo mua nào: Tượng bến, cam hồng, giầy áo, giầy quần, mua nhang, mua pháo, sắm quần, may áo, lộn xộn lăng xăng, kẻ đà không xiết! ( Ấy là: Gởi tiền cho khách trú đem về bên Trung Huê đa!)

Chẳng hay: Ngày thường đây, không mặc áo quần, không ăn uống hay sao; để đến ngày Tết, chạy ssaps, chạy ngửa, mà mua sắm dữ vậy? Giàu thì cứ việc mua xối xả, còn nghèo thì lo vay hỏi, tiền tháng, tiền ngày mà sắm, mà mua, chà chà! Tệ quá đi thôi!

Lại bày đặt cử kiêng, kia nọ lăng xăng, cho mất ngày giờ làm ăn nữa, sợ động đất, không cho giã gạo, đốn cây….Vậy chớ đốt pháo đại, pháo tre, cây nào, cây nấy bằng bắp tay bập chơn tiếng nổ: RẦM!…RẦM!…ĐÙNG!…ĐÙNG!…Vang ran, há không động đất hay sao? (Thiệt là nói liều quá).

Còn lắm việc tồi tệ về việc ăn Tết, nếu kể ra hết thì choán giấy rất nhiều, vậy xin tóm tắt bấy nhiêu, cúi xin đồng bang kĩ nghĩ, thì dư thấy dư hiểu liền, chẳng chi rằng khó xét.

Đồng bào nên xét rành, nghĩ tốt mà giảm lầm cái việc ăn Tết đi nếu biết ngày Tết ấy, là ngày ranh hạng cho một năm, thì chẳng lạ chi hết thẩy, chẳng có chi mà đáng vui, đáng mừng, đáng vác tiền xài phí, cho uổng của, tốn công, càng thêm nhọc trí!

Đáng giảm thay cái việc ăn Tết!!!

Thơ rằng:

Tết nhứt ưa làm chi? Phá sài bậy, ích gì?

Hại bao công, tốn của. Xin kĩ xét chừa đi!

b. Dán liễn

Sách Sơn Hải Kinh nói răng: Có 1 cây đào rất lớn ở phía đông hòn núi Sóc Sơn, có 2 vị thần tên là Uất Lũy, Thần Thơ ở trong mình cây đào ấy. Loài ma, quỹ thì sợ 2 ông thần này lắm, vì 2 ông đi đâu thì có đem dây theo, hễ gặp quỷ ma thì đón bắt nuốt nhầu đi. Bởi vậy cho nên ma quỹ nghe đến cái tên của 2 ông thì hoảng kinh!

Vì vậy cho nên đời ấy người ta viết liễn đề 4 chữ là: “ Thần Thơ, Uất Lũy” mà dán nơi cửa ngõ, đặng nếu có danh của 2 vị thần ấy là có ý làm cho ma quỷ chẳng dám vô nhà mà phá quấy.

Xem như tích dán liễn chỉ ra trên đây, là 1 việc dị đoan vô cùng! Theo người biết xét, phân biệt trắng đen rõ ràng tà chánh thì ai lại sợ, ai thèm tin về việc dán liễn này bao giờ.

Đồng bào ta, phần nhiều người ham dán liễn lắm! không dè việc ấy là điều vô ích vậy. Viết liễn đã tốn tiền lại dán lên thêm dơ cột, dơ vách, dơ cửa là khác nữa.

Khi cách nhà mới hoặc làm đám cưới thì việc dán rằn rực đỏ đen tùm lum, mà nhất là mấy ngày tết thì dán nhiều hơn hết. Viết mấy câu liễn, toàn là lời chúc lành, cầy sang luôn luôn, lại cũng có lắm câu khoe danh giả nghĩa nữa.

Viết những là: “ Ngũ phước lâm môn”, “ Tấn tài tấn lợi”, “Bình an”, “ Phước thọ”, “Phú quý”, “ Vinh hoa”, “ Môn anh hùng”, “ Gia quân tử”…

Lại bày viết một câu tới cả chục chữ, mà cho mấy chữ hay câu nào thì mỗi câu cũng đều cầu sang ước mạnh giỏi đó thôi (cái túi tham vô hình, mà cũng không có đáy chớ!)

Cha chả! Nếu ước vậy, đặng vậy thì mấy người nhà có dán liễn đó khỏi nghèo nàn, ốm đau chi hết đó hả? Thôi! Xin đừng ham cái việc dán liễn mà làm chi, vô ích lắm bớ ai ơi!

Vô ích thay cho việc dán liễn!

Thơ rằng:

Dán liễn, chúc giàu sang. Thiệt lắm lếu rõ ràng!

Tốn tiền, vô ích quá! Khéo ước, chuyện hoang đàng.

c. Đốt pháo

Sách Ấu học tầm nguyên nói răng: “ Đời nhà Đường, có tên Lý Điền là người biết phép trừ quỷ, đời này, có một con quỷ tên là Sơn Tao hay bắt người ta lắm! Thầy Điền chẳng dùng phù phép chi lạ ráo thảy, cứ việc lấy mắt tre, bỏ vô bếp mà đốt, cho nổ vang, cho quỷ sợ, đặng xuất khỏi mình kẻ bệnh”.

Đó! Tích đốt pháo là vậy đó, chớ không có chi lạ nữa. Đồng bang thử nghĩ coi, việc đốt pháo có phải là vì tin điều dị đoan mà bày việc vô ích như thế hay không? (Quỷ ôi! Là quỷ!)

Ấy vậy, đồng bang nên nghĩ cho thiệt kĩ, xét cho thiệt rành mà bỏ dứt cái việc đốt pháo đi: Vì đốt nó, cũng là đều hại nhỏ cho nhơn quần, cho xã hội vậy.

đốt pháo nhằm lúc rủi ro thì là: Cháy nhà cửa, tét tay chân, nám mặt mày, hại những người già cả hoặc trẻ em giựt mình là khác nữa. Còn một điều đại hơn hết là thấy một số tiền xuống sông rất nhiều, rất uổng!

Nội cõi Việt Nam ta đây, mỗi năm đốt pháo cũng đều bạc triệu, chớ phải ít ỏi gì, cái miếng lớp…bớp…đùng! Mà ham đốt pháo? Thôi? Đốt nữa làm chi nà! Bỏ phứt cái thói làm lếu đó đi nà!

Rất khốn thay! Cho việc đốt pháo!

Thơ rằng:

Đốt pháo làm chi lớp bớp…đùng!

Tốn tiền vô ích, lại hao công!

Rủi ro nhà cháy, tay chân tét;

Vong mạng nhiều người có uổng không?

d. Dựng nêu

Sách nói răng: Mỗi xứ đều có một vị thần ở lại đó, đặng cai trị quỷ, yêu. Mà đến ngày 30 tết thì chư thần mắc về chầu trời; ngày ấy yêu, quỷ thừa dịp vắng chư thần thì lên xúm phá nhân dân. Bởi có ấy, nên người ta vẽ một cái bùa bát quái treo trên cây đào, đặng mà trừ loài yêu, quỷ.

Còn treo trầu cau và ít tờ vàng bạc đỏ, ấy gọi là chút lễ mọn vậy thôi, chớ không có ý chi khác nữa.

Ấy đó! Sự tích dựng nêu là vậy đó, chớ chẳng có nghĩa lý chi hay mà cũng không bổ ích gì cho ai chút nào, sao lo dựng, lo cúng làm chi?

Chẳng hiểu mấy vị thần này có cánh như chim, hay là cởi máy bay mà thả tuốt lên trời đặng há?

Việc dựng nêu coi nhỏ mọn vậy chớ cũng tốn đến bạc ngàn, bạc muôn phải ít ỏi gì sai? ( vì nhiều nhà quá ). Nào là chè, xôi, cau, trầu, vàng bạc, nhang, pháo, hoặc thèo lèo; có nhà lại tốn thêm cây tre nữa, dường ấy há chẳng tốn đến bạc ngàn bạc muôn hay sao?

Cúi xin đồng bang hãy kỹ xét việc phải chăng mà bỏ phứt cái thói dựng nếu cho rồi, chẳng nên làm lếu mà chi, tốn tiền càng thêm vô ích!

Bậy bạ thay cho cái tục dựng nêu!

Thơ rằng:

Cái tục dựng nêu chẳng ích đâu,

Làm chi bậy bạ tốn cau trầu.

Chắc gì có những loài yêu, quỷ?

Tốn của, lầm tin, chuốc lấy sầu.

e. Đưa ông Táo

Lệ thường mỗi năm đến ngày 23 tháng Chạp thì nấu chè, xôi cúng gọi là đưa ông Táo về trời, đặng tâu việc lành dữ của mọi người trong thế gian ( Dóc tổ)

Húy cha chả! Nếu nói vậy thì ở trên đời cũng có người làm việc nữa, phải chơi gì?Phải có quan quyền, thấy nầy, thầy nọ như dưới thế gian đây nữa sao! Phải có đủ các thứ bộ số,, đặng biên chép những việc lành dữ của mọi người mà thưởng phạt nữa chớ! Mà không biết mấy ông ở trên, dùng thứ chữ nào, mà ghi chép đa hả?

Để chừng ông trở lại, những vị có đưa đón ông đó, hỏi thăm coi, trên trời dùng chữ Tây, chữ Tàu, hay chữ Quốc ngữ cho biết. (Dị đoan ôi! Là dóc tổ!).

Dám trách! Buổi xưa, có lắm vị bày nhiều việc hoang đàng thái quá , mà gieo giống tệ đến nay!

Ta nên kĩ xét, mà bỏ phứt cái việc đưa ông Táo đi chơi cho tồi, đừng có làm liều chi vậy, tốn tiền vô ích! Uổng lắm! Ai ôi! Hoang đàng thay! Cho cái việc đưa ông Táo.

Thơ rằng:

Cái tục đưa ông Táo;

Nói nghe thật gắt láo,

Việc hoang làng chớ tin,

Cúng quả, tôm chè cháo!

Nguồn:
(1) ~ Tuần báo Nước Nam số 261,10 tháng hai 1945, tr. 5
(2) ~ Sách Sơ học yếu lược độc bản, nhà in Nguyễn Kính công ty,
ấn hành tại Hải Phòng năm 1927, Tr. 72
(3) ~ Ấn phẩm Ăn Tết- Lê Mai ấn quán xuất bản tại Sài Gòn năm 1929, tr. 4-5
~ Phong Vị Xuân Xưa, NXBHNV ngày 30/12/2020.

Đánh giá
093 202 6393
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon